Các điểm du lịch ở Hà Nội

Khu du lịch Ba Vì

Vị trí: cách Hà Nội 53 km
Đặc điểm:, Ba Vì nổi tiếng là vùng không gian xanh, sạch, nơi chứa đựng những nét đẹp hoang sơ lý tưởng và đầy thú vị cho những buổi dã ngoại của gia đình bạn. Đến vườn quốc gia Ba Vì, bạn có thể thỏa sức khám phá, nghỉ dưỡng với những khu du lịch đã được đầu tư, cải tạo ngày một khang trang, với nhiều tour du lịch thú vị được tổ chức chu đáo. Bạn có thể tham khảo một số tuyến thuê xe máy hà nội du lịch sau khi đến Ba Vi

Ba Vì là huyện tận cùng phía Tây Bắc của Hà Nội, trên địa bàn huyện có một phần lớn của dãy núi Ba Vì chạy qua phía Nam huyện, phía Đông giáp thị xã Sơn Tây, phía Đông Nam giáp huyện Thạch Thất. Phía Nam giáp các huyện Lương Sơn (về phía Đông Nam huyện) và Kỳ Sơn của Hòa Bình (về phía Tây Nam huyện). Phía Bắc giáp thành phố Việt Trì, Phú Thọ, với ranh giới là sông Hồng (sông Thao) nằm ở phía Bắc. Phía Tây giáp các huyện Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thủy của Phú Thọ. Phía Đông Bắc giáp huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc, ranh giới là sông Hồng. Huyện Ba Vì là một huyện bán sơn địa, diện tích tự nhiên là 428,0 km², lớn nhất Thủ đô Hà Nội. Huyện có hai hồ khá lớn là hồ Suối Hai, và hồ Đồng Mô (tại khu du lịch Đồng Mô). Các hồ này đều là hồ nhân tạo và nằm ở đầu nguồn sông Tích, chảy sang thị xã Sơn Tây, và một số huyện phía Tây Hà Nội, rồi đổ nước vào sông Đáy. Trên địa bàn huyện có vườn quốc gia Ba Vì. Ở ranh giới của huyện với tỉnh Phú Thọ có hai ngã ba sông là: ngã ba Trung Hà giữa sông Đà và sông Hồng (tại xã Phong Vân) và ngã ba Bạch Hạc giữa sông Hồng và sông Lô (tại các xã Tản Hồng và Phú Cường, đối diện với thành phố Việt Trì).

Tuyến 1: Khu vườn xương rồng, tre trúc, cau dừa quốc gia – Khu du lịch độ cao 400m – Đỉnh Tản Viên – Đỉnh Vua (đền thờ Đức thánh Tản Viên, đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh).

 Tuyến 2: Khu vườn xương rồng, tre trúc, cau dừa quốc gia – Khu du lịch độ cao 400m – Khu di tích lịch sử cách mạng độ cao 600m – Khu phế tích biệt thự thời Pháp độ cao 800m.

Tuyến 3: Du lịch leo núi thăm quan rừng nguyên sinh – Quần thể Bách xanh và cây bách xanh nghìn tuổi.

 Tuyến 4: Các khu du lịch an dưỡng, tắm suối như Ao Vua, Đầm Long – Suối Tiên – Khoang Xanh, Thiên Sơn – Suối Ngà… Giá phòng trong các khu nghỉ dưỡng ở Ba Vì dao động trong khoảng 250.000 – 400.0000 đồng/phòng/đêm

Nguồn:
Zing News

Khu nghỉ dưỡng Đồng Mô

Khu nghỉ dưỡng Đồng Mô

Vi trí: Cách thủ đô Hà Nội 40km về phía tây nam, nằm trong quần thể di tích của Việt Nam và là điểm đầu quần thể du lịch Sơn Tây-Ba Vì

Đặc điểm: Nơi đây được coi như là tụ họp 3 yếu tố gia đình: Thiên nhiên trong lành, có nhiều trò giả trí và thưởng thức ẩm thực

Từ Đồng Mô, bạn có thể đến thăm Thành cổ Sơn Tây, đền Và, chùa Mía và các khu du lịch Suối Hai, thăm K9 và đền thờ Bác ở Ba Vì, sau đó trở về khu du lịch để thưởng thức những món ngon đặc sản, sử dụng dịch vụ xông hơi, mát xa thư giãn.
Khu đảo Phượng với những tán rừng xanh là địa điểm thích hợp cho các hoạt động vui chơi ngoài trời của trẻ nhỏ. Câu cá, bắt gà, đào măng… cũng là những hoạt động được trẻ em vô cùng ưa thích khi đến đây. Đây là điểm mà ít khu sinh thái nào có được.

 

Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Vị trí: Số 66 phố Nguyễn Thái Học, quận Ba Đình, Hà Nội.
Ðặc điểm: Lưu giữ và trưng bày các tác phẩm, mỹ thuật có giá trị của các hoạ sĩ, nhà điêu khắc của Việt Nam qua nhiều thế hệ. Giới thiệu quá trình hình thành và phát triển của Mỹ thuật Việt Nam.

Ngôi nhà 66 Nguyễn Thái Học từ ngày 26/6/1966 chính thức trở thành Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
Có hai khối nhà chính dùng để trưng bày các tác phẩm nghệ thuật. Hệ thống trưng bày được chia thành 5 phần chính:
– Mỹ thuật thời tiền sử – sơ sử, gồm các hiện vật từ thời đồ đá, đồ đồng và sơ kỳ đồ sắt.
Giờ mở cửa: 8:30-17:00 vào các ngày trong tuần (trừ thứ 2), kể cả ngày lễ và Tết dương lịch; riêng Tết Nguyên Đán sẽ đóng cửa 4 ngày: 30, mồng 1, 2, 3. Thứ 4 và thứ 7 mở cửa từ 8:30-21:00.
Hướng dẫn khách tham quan bảo tàng bằng: Tiếng Việt, Anh, Pháp.
– Mỹ thuật cổ từ thế kỷ 11 – 19, thuộc các triều đại từ Lý, Trần, Lê đến Mạc, Tây Sơn và Nguyễn.
– Mỹ thuật thế kỷ 20, mỹ thuật cận đại (1925 – 1945) và hiện đại (1945 đến nay).
Bên cạch các sưu tập được trưng bày theo tiến trình lịch sử, tại đây còn giới thiệu 2 bộ sưu tập:
– Mỹ thuật dân gian.
– Nghệ thuật gốm Việt Nam.
Bảo tàng Mỹ thuật là một kho báu của nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam là một địa chỉ văn hoá hấp dẫn du khách bốn phương.

Đền Ngọc Sơn

Vị trí: Nằm trên đảo Ngọc Sơn thuộc hồ Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Đặc điểm: Tuy là một ngôi đền kiến trúc mới xong đền Ngọc Sơn lại là một điển hình về không gian và tạo tác kiến trúc.

Đảo Ngọc Sơn xưa được gọi là Tượng Nhĩ (tai voi). Vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long đặt tên đảo là Ngọc Tượng và đến đời Trần thì đảo được đổi tên là Ngọc Sơn. Tại đây đã có một ngôi đền được dựng lên để thờ những người anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Về sau lâu ngày ngôi đền bị sụp đổ. Đến thời Vĩnh Hựu nhà Lê (1735 – 1739), chúa Trịnh Giang đã dựng cung Thuỵ Khánh và đắp hai quả núi đất ở trên bờ phía đông đối diện với Ngọc Sơn gọi là núi Đào Tai và Ngọc Bội. Cuối đời Lê, cung Thuỵ Khánh bị Lê Chiêu Thống phá huỷ. Một nhà từ thiện tên là Tín Trai đã lập ra một ngôi chùa gọi là chùa Ngọc Sơn trên nền cung Thuỵ Khánh cũ. Năm Thiệu Trị thứ ba (1843), một hội từ thiện đã bỏ gác chuông, xây lại các gian điện chính, các dãy phòng hai bên, đưa tượng Văn Xương đế quân vào thờ và đổi tên là đền Ngọc Sơn (Văn Xương là nhân vật đời Kiến Vũ, năm 25 – 55 sau công nguyên bên Trung Quốc, sau khi chết được phong là thần chủ về văn chương khoa cử).
Theo sách “Hà Thành linh tích cổ lục” thì ngay từ đời Lê, trên đảo Ngọc Sơn đã có đền thờ Quan Công, người nổi tiếng trung nghĩa đời Tam Quốc (Trung Quốc). Khi vua Lê và chúa Trịnh dùng hồ là nơi duyệt thuỷ quân thì đền được coi như một võ miếu. Dân Hà thành đã đem tượng Đức thánh Trần thờ phối hưởng bên cạnh Quan Công. Nhưng “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” lại cho đó là tượng Lê Lai, công thần khai quốc đời Lê đã xả thân cứu chúa.
Năm Tự Đức thứ mười tám (1865), nhà nho Nguyễn Văn Siêu đứng ra tu sửa lại đền. Đền mới sửa được đắp thêm đất và xây kè đá xung quanh, xây đình Trấn Ba, bắc một cây cầu từ bờ đông đi vào gọi là cầu Thê Húc. Trên núi Ngọc Bội cũ, ông cho xây một tháp đá, đỉnh tháp hình ngọn bút lông, thân tháp có khắc ba chữ “Tả Thanh Thiên” (viết lên trời xanh), ngày nay thường gọi đó là tháp Bút.

Tiếp đến là một cửa cuốn gọi là đài Nghiên, trên có đặt một cái nghiên mực bằng đá hình nửa quả đào bổ đôi theo chiều dọc, có hình ba con ếch đội. Trên nghiên có khắc một bài minh nói về công dụng của cái nghiên mực xét về phương diện triết học. Người đời sau ca ngợi là: Nhất đài Phương Đình bút. Từ cổng ngoài đi vào có hai bức tường hai bên, một bên là bảng rồng, một bên là bảng hổ, tượng trưng cho hai bảng cao quý nêu tên những người thi đỗ, khiến cho các sĩ tử đi qua càng gắng công học hành.
Tên cầu Thê Húc nghĩa là giữ lại ánh sáng đẹp của mặt trời. Cầu Thê Húc dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn. Đền chính gồm hai ngôi đền nối liền nhau, ngôi đền thứ nhất về phía bắc thờ Trần Hưng Đạo và Văn Xương. Tượng Văn Xương đứng, tay cầm bút được đặt ở hậu cung trên bệ đá cao khoảng 1m, hai bên có hai cầu thang bằng đá. Phía nam có đình Trấn Ba (đình chắn song – ngụ ý là cột trụ đứng vững giữa làn sóng không lành mạnh trong nền văn hoá đương thời). Đình hình vuông có tám mái, mái hai tầng có 8 cột chống đỡ, bốn cột ngoài bằng đá, bốn cột trong bằng gỗ. Các nhân vật được thờ trong đền ngoài Văn Xương Đế Quân, Lã Động Tân, Quan Vân Trường, Trần Hưng Đạo, còn thờ cả phật A Di Đà. Điều này thể hiện quan niệm Tam giáo đồng nguyên của người Việt.
Sự kết hợp giữa đền Ngọc Sơn và hồ Hoàn Kiếm đã tạo thành một tổng thể kiến trúc Thiên – Nhân hợp nhất, tạo vẻ đẹp cổ kính, hài hoà, đăng đối cho đền và hồ, gợi nên những cảm giác chan hoà giữa con người và thiên nhiên. Đền và hồ đã trở thành những chứng tích gợi lại những kỷ niệm xưa về lịch sử dân tộc, thức tỉnh niềm tự hào, yêu nước chính đáng cũng như tâm linh, ý thức mỗi người Việt Nam trước sự trường tồn của dân tộc.

Công viên nước Hồ Tây

Vị trí: Quận Tây Hồ, Hà Nội.
Ðặc điểm:Công viên nước Hồ Tây là khu vui chơi giải trí hiện đại và hấp dẫn nhất của Hà Nội.

Công viên nước Hồ Tây có diện tích 35.560m² chia thành 5 khu vui chơi, gồm các hạng mục: bẩy đường ống trượt với độ cao trung bình là 12m kể từ tháp tiếp nhận… Trong đó phải kể đến hai đường trượt cao tốc, độ cao 14,5m lần đầu tiên được lắp đặt tại Việt Nam. Bể tạo sáu loại sóng, tối đa là 1,2m, độ sâu tối đa là 3m dành cho những người thích cảm giác mạnh như dây đu tử thần, cầu treo Tây Tạng. Bể mát xa (bể sủi) có độ sâu 0,6m tạo cảm giác thư thái dễ chịu. Bể lặn có độ sâu 3,5m dành cho những người thích mạo hiểm, cũng tại đây có thể tập lặn bằng khí tài hoặc chơi nhảy cầu. Dành cho trẻ em có bể vầy, các đường trượt mini, các trò chơi dưới nước; dòng sông trôi có chiều dài 450m, rộng 4,5m chảy dưới năm cây cầu.thuê xe máy hà nội

Công viên Vầng Trăng nằm liền kề khu công viên nước. Ngồi trên đu quay ở độ cao 60m, bạn có thể thư giãn và ngắm nhìn toàn cảnh thành phố. ở đây còn có phòng chiếu phim không gian ba chiều, các trò chơi điện tử thế hệ mới, siêu thị, khu thể thao liên hoàn với các sân tennis, cầu lông, bóng bàn, phòng bi-a, hồ câu cá, sân golf mini cùng các cụm trò chơi đĩa quay, ô tô, tàu cao tốc.

Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Vị trí: Đường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, Hà Nội.
Ðặc điểm: Văn Miếu được xây dựng tháng 10 năm 1070, thờ Khổng Tử, các bậc Hiền triết của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam. Năm 1076, nhà Quốc Tử Giám được xây kề sau Văn Miếu, ban đầu là nơi học của các hoàng tử, sau mở rộng thu nhận cả các học trò giỏi trong thiên hạ.

Văn Miếu có tường bao quanh xây bằng gạch. Bên trong có những lớp tường ngăn ra làm 5 khu. Khu thứ nhất bắt đầu với cổng chính, trên cổng có chữ Văn Miếu, dưới cổng là đôi rồng đá mang phong cách thời Lê sơ (thế kỷ 15). Lối đi ở giữa dẫn đến cổng Ðại Trung Môn mở đầu cho khu thứ hai. Hai bên còn hai cổng nhỏ. Vẫn lối đi ấy dẫn đến Khuê Văn Các (gác vẻ đẹp của sao khuê, chủ đề văn học). Hai bên gác cũng có hai cổng nhỏ. Khu thứ ba là từ gác Khuê Văn tới Ðại Thành Môn, ở giữa khu này có một hồ vuông gọi là Thiên Quang Tỉnh (giếng trời trong sáng) có tường bao quanh.

Hai bên hồ là hai khu vườn bia tức nơi dựng các tấm bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ (năm 1993 với sự tài trợ một phần của tổ chức doanh nghiệp Mỹ, Ban Quản lý Văn Miếu đã dựng được tám ngôi nhà che cho các bia này). Tiến sĩ là người đỗ cao nhất trong kỳ thi Ðình. Ngày trước, người đi học sau khoảng 10 năm đèn sách đủ vốn chữ để dự thi Hương tức khoa thi tổ chức liên tỉnh, cứ ba năm mở một khoa. Ðạt điểm cao của kỳ thi này đạt học vị Cử nhân. Năm sau các ông Cử tới kinh đô dự kỳ thi Hội. Những người đủ điểm chuẩn sẽ dự kỳ thi Ðình (thi Hội và thi Ðình thực ra là hai giai đoạn của một cuộc thi). Trúng tuyển kỳ thi này được gọi là Tiến sĩ. Ðỗ Tiến sĩ có thể được bổ làm quan. Hiện có 82 bia, xưa nhất là bia ghi về khoa thi năm 1442, muộn nhất là bia khoa năm 1779. Ðó là những di vật quý nhất của khu di tích. Bước qua cửa Ðại thành là tới khu thứ tư. Một cái sân rộng, hai bên là dãy nhà Tả Vu, Hữu Vu, vốn dựng làm nơi thờ các danh nho. Cuối sân là nhà Ðại bái và Hậu cung, kiến trúc đẹp và hoành tráng. Tại đây có một số hiện vật quý: bên trái có chuông đúc năm 1768, bên phải có một tấm khánh đá, trên mặt có khắc bài văn nói về công dụng của loại nhạc khí này.

Bố cục của toàn thể Văn Miếu như vậy muộn nhất là cũng có từ đời Lê (thế kỷ 15 – thế kỷ 18). Riêng Khuê Văn Các mới được dựng khoảng đầu thế kỷ 19, nhưng cũng nằm trong quy hoạch tổng thể vốn có của những Văn Miếu (như Văn Miếu ở Khúc Phụ, Trung Quốc, quê hương của Khổng Tử, có đủ Ðại Trung Môn, Khuê Văn Các, Ðại Thành Môn, Ðại Thành Ðiện, bia tiến sĩ…). Khuê Văn Các ở Văn Miếu Hà Nội thường là nơi tổ chức bình các bài văn thơ hay của các sĩ tử.

Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam

Vị trí: Số 36 Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Ðặc điểm:- Nơi trưng bày, gìn giữ bảo quản các tài liệu, hiện vật giới thiệu vai trò, thành tựu của phụ nữ Việt Nam trong quá trình phát triển của dân tộc.
– Là nơi giao lưu văn hoá giữa phụ nữ Việt Nam và phụ nữ thế giới.

Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam khánh thành ngày 20/10/1995 nhân kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam không chỉ là nơi nghiên cứu, lưu giữ bảo quản, trưng bày những di sản quí giá của Phụ nữ Việt Nam mà còn là trung tâm hoạt động giao lưu văn hoá của phụ nữ Việt Nam và phụ nữ quốc tế vi mục tiêu Bình đẳng – Phát triển và Hoà bình.

Với diện tích trưng bày khoảng 1.200m² trong hai khối nhà lớn liên hoàn, bảo tàng giới thiệu 5 chuyên đề: – Phụ nữ Việt Nam trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
– Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
– Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và sự nghiệp đấu tranh giải phóng phụ nữ.
– Nét văn hoá của phụ nữ Việt Nam qua những sản phẩm thủ công truyền thống.
– Trang phục phụ nữ các dân tộc Việt Nam.

Gian đầu tiên là bức tượng “Mẹ Việt Nam dát vàng, cao 3,6m, do nghệ sĩ Phú Cường thực hiện. Hình ảnh người mẹ khoẻ khoắn, tràn đầy sức sống, dịu dàng và nhân hậu. Bàn tay phải của bà mở rộng thể hiện sự vượt qua mọi thử thách khó khăn; tay trái nâng một em bé hai tay đang vươn về phía trước. Trên trần nhà được bố trí những chùm đèn trắng thể hiện cho dòng sữa mẹ, một nguồn sống bất tận nuôi bao thế hệ. Bức tượng là biểu tượng cho sức mạnh, vẻ đẹp và khát vọng cuộc sống của phụ nữ Việt Nam…
Từ khi mở cửa đến nay bảo tàng Phụ nữ đã tạo được sức hấp dẫn với du khách trong và ngoài nước.

Thành phố Hà Nội

Diện tích: 921,8 km²
Dân số: 3.216,7 nghìn người (năm 2006)
Các quận/huyện:
– Quận: Hoàn Kiếm, Ba Ðình, Ðống Ða, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Long Biên, Hoàng Mai.
– Huyện: Ðông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm.
Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa…
Hà Nội là thủ đô của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Điều kiện tự nhiên

Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, ở vị trí trong khoảng từ 20º25′ đến 21º23′ vĩ độ Bắc, 105º15′ đến 106º03’ kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh: Thái Nguyên ở phía bắc, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía đông và đông nam, Hà Tây và Vĩnh Phúc ở phía tây. Hà Nội có khoảng cách dài nhất từ phía bắc xuống phía nam là trên 50km và chỗ rộng nhất từ tây sang đông 30km. Ðiểm cao nhất là núi Chân Chim: 462m (huyện Sóc Sơn); nơi thấp nhất thuộc phường Gia Thụy (quận Long Biên) 12m so với mặt nước biển.
Hà Nội nằm hai bên bờ sông Hồng, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ trù phú và nổi tiếng từ lâu đời, Hà Nội có vị trí và địa thế đẹp, thuận lợi để là một trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan trọng của cả nước.
Khí hậu : Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc Bộ với đặc điểm là khí hậu nhiệt đới gió mùa ấm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít. Nằm trong vùng nhiệt đới, Hà Nội quanh nǎm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao. Lượng bức xạ tổng cộng trung bình hàng nǎm ở Hà Nội là 122,8 kcal/cm2 và nhiệt độ không khí trung bình hàng nǎm là 23,6ºC. Do chịu ảnh hưởng của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn. Ðộ ẩm tương đối trung bình hàng nǎm là 79%. Lượng mưa trung bình hàng nǎm là 1.800mm và mỗi nǎm có khoảng 114 ngày mưa. Ðặc điểm khí hậu Hà Nội rõ nét nhất là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh. Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa. Nhiệt độ trung bình mùa này là 29,2ºC. Từ tháng 11 đến tháng 3 nǎm sau là mùa đông thời tiết khô ráo. Nhiệt độ trung bình mùa đông 15,2ºC. Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10) cho nên có thể nói rằng Hà Nội có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Ðông. Bốn mùa thay đổi như vậy đã làm cho khí hậu Hà Nội thêm phong phú, đa dạng, mùa nào cũng đẹp, cũng hay. Mùa tham quan tốt nhất ở Hà Nội là mùa thu, rất thích hợp với du khách ở những vùng hàn đới.
Địa hình: Hà Nội bao gồm hai loại địa hình đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Phần đồng bằng theo hai bờ sông Hồng và chi lưu (sông Ðuống, sông Ðáy…) là chủ yếu. Phần trung du gồm huyện Sóc Sơn và một phần huyện Ðông Anh, kéo dài về phía đồng bằng của núi Tam Ðảo, có độ cao từ 7-10m đến vài trăm mét so với mực nước biển. Vì vậy địa hình Hà Nội có độ nghiêng theo hướng Bắc Nam (từ Sóc Sơn – Ðông Anh về Thanh Trì).
Hà Nội có dãy Sóc Sơn (núi Sóc) là đợt kéo dài của khối Tam Ðảo, với ngọn cao nhất là 308m. Núi này có các tên gọi khác nhau như núi Mã, núi Ðền (vì đỉnh núi có đền Sóc, tương truyền là nơi Thánh Gióng thăng hoá cùng với ngựa sắt về trời), núi Vệ Linh. Núi Sóc tọa lạc tại xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn. Ngoài núi Sóc, Hà Nội còn có một số đồi núi khác đột khởi lên giữa đất bằng như núi Sái (xã Thuỵ Lâm, huyện Ðông Anh), núi Phục Tương (xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm), và ở trung tâm Hà Nội, thuộc vùng Bách thảo có núi Nùng, còn gọi là Long Ðỗ hay núi Khán, tạo nên dáng vẻ cho thế đất Thăng Long xưa.
Sông ngòi: Hà Nội nằm ở trung tâm của tam giác chảy sông Hồng. Sông Hồng dài 1.183km từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống. Ðoạn sông Hồng qua Hà Nội dài 40km từ huyện Ðông Anh đến hết huyện Thanh Trì. Sông Ðuống là con sông lớn thứ hai của Hà Nội, tách ra khỏi sông Hồng từ ngã ba Xuân Canh (xã Xuân Canh, Ðông Anh) rồi qua phường Ngọc Thuỵ, xã Yên Thường, cắt quốc lộ 1A ở Cầu Ðuống, qua đất Gia Lâm 17km rồi sang đất Bắc Ninh đổ vào sông Thái Bình.
Ngoài hai con sông lớn đó, đất Hà Nội có nhiều dòng chảy khác, tuy nhỏ và ngắn song gắn chặt với lịch sử lâu đời của Hà Nội. Ðó là sông Tô Lịch, gắn với sự hình thành của Hà Nội từ hơn 1.500 năm trước. Dòng chảy cũ liền với sông Hồng ở đầu phố chợ Gạo đã bị lấp từ đầu thế kỷ 20, nay chỉ còn đoạn chảy giữa phố Thuỵ Khuê-Hoàng Hoa Thám, lên đến chợ Bưởi, rồi chảy ngoặt về phía nam Cầu Giấy, Ngã Tư Sở, xuôi về Cầu Bươu, hợp với sông Nhuệ, sông Thiên Ðức, sông Nghĩa Trụ, sông Cheo Reo, Ngũ Huyện Giang, sông Kim Ngưu…
Ðầm hồ ở Hà Nội cũng nhiều, lớn như Hồ Tây, nhỏ như hồ Hoàn Kiếm, hồ Thủ Lệ, hồ Bảy Mẫu, hồ Kim Liên, hồ Liên Ðàm, đầm Vân Trì…
Dân cư:
Ở các huyện ngoại thành và một phần quận Tây Hồ, dân cư chủ yếu là người dân gốc. Còn ở các quận cũ của nội thành, dân cư hầu hết đều tập hợp từ các tỉnh, thành khắp đất nước về sinh sống và làm việc trong các cơ quan Trung ương. Cư dân Hà Nội chủ yếu là người Việt, song cũng có một số dân tộc ít người khác.
Chính những lợi thế về dư địa chí đã tạo cho Hà Nội một khả năng giao lưu trong nước và quốc tế thuận lợi. Chính những bàn tay, khối óc cần cù, sáng tạo của cư dân Hà Nội xưa và nay đã tạo cho Hà Nội một vị trí xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa và du lịch, là thủ đô của nước Việt Nam, một trong những thủ đô hấp dẫn trên thế giới.
Giao thông:
Từ thủ đô Hà Nội, có thể đi khắp mọi miền đất nước bằng một hệ thống giao thông thuận tiện.
Đường không: có sân bay quốc tế Nội Bài (thuộc huyện Sóc Sơn, cách trung tâm thành phố chừng 35km). Cùng với Nội Bài còn có sân bay Gia Lâm (cách Hà Nội chừng 8km), vốn là sân bay chính của Hà Nội từ trước những năm 70 thế kỷ 20. Bây giờ nơi đây là ga sân bay trực thăng sẵn sàng phục vụ cho du khách những tour du lịch tới các điểm tham quan hấp dẫn.
Đường bộ: Xe ô tô khách liên tỉnh xuất phát từ các bến xe Phía Nam, Gia Lâm, Lương Yên, Nước Ngầm toả đi khắp mọi miền trên toàn quốc theo các quốc lộ 1A xuyên Bắc – Nam; quốc lộ 2 đi Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang; quốc lộ 3 đi Thái Nguyên, Cao Bằng; quốc lộ 5 đi Hải Phòng, Quảng Ninh; quốc lộ 6 đi Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu…
Đường sắt: Hà Nội cũng là đầu mối giao thông đường sắt trong nước và có đường sắt liên vận sang Bắc Kinh (Trung Quốc) rồi đi Châu Âu…
Đường thuỷ: Hà Nội cũng là đầu mối giao thông quan trọng với bến Phà Đen đi Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Việt Trì; có bến Hàm Tử Quan đi Phả Lại.
Không phải Hà Nội vào cuối thế kỷ 20 mới có được bấy nhiêu điều kiện thuận lợi mà từ lâu, từ ngày vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Ðại La để lập kinh đô Thăng Long vào tháng bảy năm Canh Tuất (1010), trong “Chiếu dời đô”, vị vua khai sáng triều Lý (1010-1225) đồng thời khai sáng cho Thăng Long-Hà Nội đã chỉ ra.

Bảo tàng Hà Nội

Vị trí: Ðường Nguyễn Văn Huyên, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
Ðặc điểm: Lưu giữ các hiện vật, tài liệu phản ánh mọi mặt đời sống, sinh hoạt, phong tục tập quán của 54 dân tộc trên khắp cả nước.

Bảo tàng Hồ Chí Minh nằm ở khu vực quảng trường Ba Ðình, bên cạnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bảo tàng khánh thành ngày 19/5/1990 nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Giờ mở cửa:
Mở cửa các ngày trong tuần trừ thứ Hai và thứ Sáu:
Sáng: 8:00 đến 11:00
Chiều: 13:30 đến 16:30
Ðây là tòa nhà cao 20,5m gồm 4 tầng với tổng diện tích sử dụng là 10.000m². Công trình được thiết kế như một bông hoa sen nở, tượng trưng cho phẩm chất thanh cao, trong sáng của Hồ Chủ tịch.
Phần trưng bày của Bảo tàng rộng gần 4.000m2 giới thiệu hơn 117.274 hiện vật gốc, hình ảnh phản ánh cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn liền với các sự kiện lịch sử quan trọng của Việt Nam và thế giới từ cuối thế kỷ thứ 19 đến nay. Tại bảo tàng còn có khu triển lãm, các kho lưu trữ, thư viện chuyên đề, hội trường lớn, các hội trường vừa và nhỏ phục vụ tham quan, nghiên cứu, sinh hoạt khoa học và văn hóa.
Từ ngày mở cửa, bảo tàng đã đón hàng triệu lượt khách trong nước và quốc tế đến tham quan.

Bảo tàng Hồ Chí Minh

Vị trí: Số 3 Ngọc Hà, quận Ba Đình, Hà Nội.
Ðặc điểm: Lưu giữ hiện vật, hình ảnh, phản ánh cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chủ tịch.

Bảo tàng Hồ Chí Minh nằm ở khu vực quảng trường Ba Ðình, bên cạnh lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bảo tàng khánh thành ngày 19/5/1990 nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Giờ mở cửa:
Mở cửa các ngày trong tuần trừ thứ Hai và thứ Sáu:
Sáng: 8:00 đến 11:00
Chiều: 13:30 đến 16:30
Ðây là tòa nhà cao 20,5m gồm 4 tầng với tổng diện tích sử dụng là 10.000m². Công trình được thiết kế như một bông hoa sen nở, tượng trưng cho phẩm chất thanh cao, trong sáng của Hồ Chủ tịch.
Phần trưng bày của Bảo tàng rộng gần 4.000m2 giới thiệu hơn 117.274 hiện vật gốc, hình ảnh phản ánh cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn liền với các sự kiện lịch sử quan trọng của Việt Nam và thế giới từ cuối thế kỷ thứ 19 đến nay. Tại bảo tàng còn có khu triển lãm, các kho lưu trữ, thư viện chuyên đề, hội trường lớn, các hội trường vừa và nhỏ phục vụ tham quan, nghiên cứu, sinh hoạt khoa học và văn hóa.
Từ ngày mở cửa, bảo tàng đã đón hàng triệu lượt khách trong nước và quốc tế đến tham quan.
Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam

Làng nghề kim hoàn Đình Công

Vị trí: Nằm bên bờ sông Tô Lịch, thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Đặc điểm: Làng Định Công còn được gọi là Định Công kim hoàn.

Tên làng đã mách bảo về nghề chạm vàng bạc nổi tiếng ở đây. Câu chuyện về tổ nghề chạm vàng bạc có liên quan đến ba anh em họ Trần (sinh thời khoảng năm 571-603) từ lâu đã đi vào tiềm thức và lòng tự hào của mỗi người dân làng đồng thời nhắc nhở các thế hệ thợ nghề luôn nhớ về cái nôi ban đầu của nghề chạm vàng bạc.
Thật ra ba anh em họ Trần kể trên cũng không hẳn là ông tổ nghề với danh nghĩa là nhà khai sáng mà họ chỉ là những người có đóng góp cải tiến quan trọng về mặt kĩ thuật. Trước đó khoảng 5 thế kỷ, lịch sử cổ Trung Quốc đã từng ca tụng Châu Giao (tên nước ta hồi đó) là nơi có nhiều vàng bạc châu báu và việc khai thác những kim loại quý này đã khá phát triển. Sử Trung Quốc những năm 187 – 226 sau công nguyên ghi rõ: Sĩ Nhiếp đã gửi sang Trung Quốc những cống phẩm, đứng hàng đầu là những đồ vật bằng vàng, bạc. Trong nhiều mộ ở thế kỷ II, III, đã thấy đồ trang sức bằng vàng, bằng ngọc như vòng tay, nhẫn, trâm, lược, hoa tai, hạt chuỗi… được gia công tinh tế. Điều đó chứng tỏ trước khi xuất hiện ba anh em họ Trần thì nước ta đã có nghề chạm khắc vàng bạc làm đồ trang sức.
Để có thể chế tác được các sản phẩm vàng bạc tinh xảo đòi hỏi người thợ phải nắm vững 3 khâu kỹ thuật quan trọng của nghề là chạm, đậu và trơn. Chạm tức là chạm trổ các hình vẽ, hoa văn, hoạ tiết trên mặt các đồ trang sức hay các đồ bằng vàng, bạc. Đồ chạm ngày trước thường là các loại khánh, vòng, kiềng, chóp nón, ống nhổ, ống vôi…
Đậu tức là kéo vàng bạc đã nung chảy thành những sợi chỉ vàng, bạc rồi từ những sợi chỉ này chuyển thành những hình hoa lá, chim muông gắn vào những đồ trang sức. Khâu này đòi hỏi phải có bàn tay khéo léo và nhỏ nhắn nên phần nhiều do phụ nữ làm.
Trơn tức là làm những đồ vàng bạc không cần chạm trổ mà chỉ cườm cho nhẵn, bóng, trơn. Người thợ kim hoàn lành nghề không những phải nắm vững cả ba mặt chuyên môn mà trước hết phải nắm vững những thủ thuật luyện kim cổ truyền. Muốn có vàng tốt tức là vàng 10 tuổi (còn gọi là vàng lá, vàng diệp) người ta tiến hành theo kỹ xảo cổ truyền gọi là “chở vàng”.
Sau khi những đồ vật đã được tạo thành hình thì đến khâu cuối cùng là đánh bóng. Đồ dùng bằng bạc được xoa bằng cát rồi trải lên trên một dung dịch gồm bồ tạt và vôi sau đó hơ trên lửa. Khi đã nguội đồ vật được ngâm vào một dung dịch phèn đun sôi rồi lại dùng cát cọ lên một lần nữa và cuối cùng lại cọ bằng những mảnh chai. Đồ dùng bằng vàng thì được chải bằng một chất lỏng sánh gồm gạch giã với muối nước, hơ qua lửa rồi làm sạch. Sau đó người ta lại ngâm đồ vật vào một dung dịch có quả tai chua đun sôi, rồi cuối cùng cũng cọ bằng cát và bằng mảnh chai.
Qua những hoa văn, hoạ tiết trang trí trên các sản phẩm, ta nhận thấy rõ đức tính kiên trì, sự thông minh khéo léo, óc sáng tạo của những người thợ kim hoàn Việt Nam.

Bảo tàng Lịch sử Quân sự

Vị trí: Số 28A đường Điện Biên Phủ, gần lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, quận Ba Đình, Hà Nội.
Ðặc điểm: Trưng bày những hiện vật và tài liệu giới thiệu quá trình ra đời và trưởng thành của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.

 

Bảo tàng Lịch sử Quân sự (Bảo tàng Quân Đội) được thành lập ngày 22/12/1959, trên diện tích đất khoảng 10.000m². Diện tích trưng bày là 2.000m².

Giờ mở cửa: Mở cửa các ngày trong tuần:
Sáng: 8:00 đến 11:30
Chiều: 13:30 đến 16:00
Nội dung trưng bày chia làm 6 phần:
– Lịch sử của dân tộc và sự ra đời của Quân đội Nhân dân Việt Nam
– Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
– Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ
– Quân đội Việt Nam tiến lên chính quy hiện đại
– Quân dân một lòng – bách chiến bách thắng
– Khu trưng bày ngoài trời có máy bay, xe tăng, trọng pháo, thiết giáp, tên lửa, súng cối, bom… đều là những hiện vật có kích thước lớn.
Đặc biệt có những bản đồ, những sa bàn về chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Những hiện vật quý về các trận đánh và những chiến sỹ anh hùng trong lực lượng vũ trang.

Làng Vòng

Vị trí: Thuộc phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 8km về phía tây bắc.
Đặc điểm: Làng Vòng gồm có các thôn: Vòng Tiền, Vòng Hậu, Vòng Sở, Vòng Trung nhưng chỉ có hai thôn Vòng Hậu và Vòng Sở là làm cốm ngon.
Về Hà Nội, không ai không nhớ đến một thứ quà ngon nổi tiếng, thứ quà của lúa non. Cái thứ quà vừa dân dã vừa thanh tao đó có tên gọi là “Cốm làng Vòng”.

Những ngày đầu mùa thu, đi dạo trong vùng trồng lúa ta thấy ngào ngạt mùa lúa chín xen với mùi cỏ, mùi đất của quê hương. Người làng Vòng đi ngắt lúa về và nội trong 24 tiếng đồng hồ phải bắt tay vào việc chế biến hạt thóc ra thành cốm. Làm cốm hoàn toàn không đơn giản. Phương pháp bí truyền luôn luôn được giữ kín: bố mẹ chỉ truyền cho con trai, nhất quyết không truyền cho con gái vì khi đi lấy chồng người con gái sẽ đem phương pháp làm cốm đi nơi khác.
Nói về cách thức làm cốm, tất nhiên là rất nhiều vùng quê biết làm nhưng phải thừa nhận rằng không có đâu làm được hạt cốm dẻo và thơm ngon bằng ở làng Vòng. Người làng Vòng làm cốm rất công phu. Giống lúa để gieo mạ, thành thứ lúa chuyên làm cốm có nhiều loại: giống nếp mỡ, nếp Nhật, nếp hoa vàng, nếp trẩm đầu,… Lúa thì con gái rồi đến phơi màu. Sau đó đợi đến kỳ lúa chắc hạt (nhưng phải là chắc xanh, chứ không phải là đỏ vàng) thì cắt về. Lúa cắt về tuyệt đối không được vò hay đập, mà phải tuốt để cho những hạt thóc vàng bay ra. Mọi người cho rằng: bí quyết của cốm Vòng là lúc đem ra đảo trong nồi rang. Tất cả sự khéo tay cộng với những kinh nghiệm truyền thống đã giúp cho người làng Vòng đảo cốm rất dẻo, lửa luôn luôn đều, nhất là củi đun phải là thứ củi đặc biệt chứ không được dùng đến củi rơm hay củi đóm. Công việc xay giã cũng cần phải gượng nhẹ, chu đáo; chày giã cũng không được nặng quá, mà giã thì phải đều tay, không được chậm vì cốm sẽ nguội đi.
Sau khi giã xong, người ta đem sàng trấu cùng những hạt cốm nhẹ nhất (đó là cốm đầu nia). Còn các thứ cốm khác là cốm thường nhưng cả ba thứ đó không phải sàng xong là ăn được ngay, cần phải trải qua một khâu nữa là hồ.

Người ta lấy mạ giã ra, hoà với nước, làm thành một thứ phẩm xanh màu lá cây rồi hồ vào cốm cho thật đều tay. Sau khi hồ xong, cốm được tãi ra thật mỏng trên những mảnh lá chuối hoặc lá sen rồi xếp vào thúng để gánh đi bán. Màu xanh tự nhiên của cốm cộng với màu xanh nhân tạo làm thành một màu xanh biếc cho cốm làng Vòng. Cốm làng Vòng rất mỏng, sờ mát tay và rất dịu dàng bởi vị hương của lúa.
Nghề làm cốm vất vả, một khuya, hai sớm. Các cô gái làng Vòng mỗi sớm lại tấp nập quang gánh, sắm sửa mẻ cốm rao bán. Cốm làng Vòng được nâng niu bán từ chính đôi bàn tay các cô thôn nữ của làng càng mặn mà, thơm đượm hương vị cốm.
Muốn thưởng thức được hết hương vị của cốm ta phải ăn cốm không. Và cốm không từ lâu đã trở thành một món ăn bình dân không thể thiếu. Ngoài việc ăn cốm, người ta còn chế biến cốm ra nhiều món khác. Đầu tiên là cốm nén. Vì cốm là một món ăn không thể để lâu nên người ta nghĩ ra cách nén cốm, để cốm không bị mốc mà vẫn ngon và dẻo.
Sau này, người làm nghề giò chả gia truyền đã nghĩ và chế ra một loại chả cốm (chả lợn trong đó có cốm) ăn bùi, béo ngậy và thơm. Người ta nói rằng, chả cốm phải ăn lúc nóng mới tận hưởng hết mùi vị của nó.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s